Chi tiết Tiểu sử
Mẹ của chúng con là bà Theresa Phạm Thị Sơ. Bà sinh ngày 1 tháng 7 năm 1932 tại Bích Trì, Hà Nam, Bắc Việt Nam, trong một gia đình rất đông con, khoảng 11 anh chị em. Bà là người con thứ 9, gần áp út. Gia đình cũng khá giả. Mẹ của bà mắc bệnh di truyền nên không đi đứng được khi đến tuổi trung niên. Về sau, gần một nửa trong số anh chị em của bà cũng bị như vậy khi đến tuổi trung niên.
Đến năm 1954, gia đình di cư vào Nam và gần như phải làm lại từ đầu. Sinh ra trong thời phong kiến và chiến tranh loạn lạc, bố mẹ không cho bà ăn học nhiều, nhưng bà vẫn phấn đấu, vừa đi làm nữ quân nhân vừa đi học tư để thi đậu bằng Trung học Đệ nhất cấp (lớp 9). Nhờ vậy, bà được nhận vào làm nhân viên kế toán Ngân khố Nhà nước Việt Nam Cộng Hòa.
Vì là con gái gần áp út, các anh chị lớn đều có gia đình sớm, hai em nhỏ hơn thì phải đi học, nên bà là người chính yếu chăm sóc cho bố mẹ khi các ngài về già. Vì thế, bà lập gia đình khá trễ so với nhiều người khác trong thế hệ của bà. Bà lập gia đình với ông Phêrô Nguyễn Văn Tịnh năm 1968, khi bà đã 35 tuổi. Bà có ba người con: một gái và hai trai.
Sau năm 1975, chính phủ mới không trọng dụng người của chế độ cũ nên bà bị thất nghiệp. Gia đình cũng không có việc làm ổn định và phải nhờ vào sự trợ giúp của các anh chị ở nước ngoài để sống tạm bợ. Trong hoàn cảnh đó, bà vẫn gắng sức làm một người mẹ, một người vợ thật đảm đang, lo cho chồng và các con còn nhỏ, trong khi vẫn phải xoay xở khắp nơi để có tài chánh cho gia đình, vì chồng cũng thất nghiệp kể từ năm 1973. Trước năm 1975, chồng bà làm việc cho quân đội Mỹ ở miền Nam Việt Nam nên sau năm 1975 nhà nước kỳ thị, không kiếm được việc làm. Bà là người rất cậy trông vào Chúa. Trong hoàn cảnh bị dồn dập, bà vẫn đi lễ mỗi buổi chiều ở nhà thờ Huyện Sỹ để xin Chúa thương giúp đỡ. Nhờ vậy mà gia đình vẫn tồn tại được và các con cái được ăn học đàng hoàng như mọi người khác.
Tháng 9 năm 1992, bà và gia đình được định cư tại Hoa Kỳ do người em trai áp út là Phạm Kế Toại bảo lãnh theo diện ODP. Khi đó, bà và chồng đã 60 tuổi rồi. Bà phụ giúp tài chánh cho gia đình bằng cách trông trẻ (babysitting). Bà vẫn chăm sóc gia đình thật tốt. Bà vẫn nêu gương cho các con cháu như một tín hữu Công Giáo gương mẫu. Bà vẫn tham dự Thánh lễ Chúa Nhật đều đặn và một số ngày thường. Bà không đi lễ ngày thường thường xuyên như hồi còn ở Việt Nam vì bà không lái xe được, đi bộ thì hơi xa, và chân bà cũng bắt đầu yếu do ảnh hưởng phần nào chứng bệnh di truyền từ bên ngoại.
Từ năm 2008, bà phải dùng các phương tiện trợ giúp đi lại như gậy chống. Sức khỏe cứ suy giảm đều dần. Đến năm 2015, bà hoàn toàn không thể đi chợ hay vào siêu thị được nữa và phải có người giúp đỡ đi lại trong nhà. Bà không còn có thể đến nhà thờ để tham dự Thánh lễ vì ngồi lâu hay bị đau lưng, nhất là sau lần bị té vào tháng 10 năm 2021. Thỉnh thoảng vẫn có người kiệu Mình Thánh Chúa đến cho bà. Những năm cuối đời, bà bị suy giảm trí nhớ, tức là bị sa sút trí tuệ (dementia), và không tự đi lại được nếu không có người trợ giúp. Bà được Chúa gọi về thật bất ngờ vào ngày 8 tháng 3 năm 2026. Trước đó, buổi sáng bà đã được điểm phúc và rước Mình Thánh Chúa.
Suốt cuộc đời, bà không làm những việc lớn lao theo cách người đời thường nghĩ, nhưng bà luôn là tấm gương sáng cho con cái về lòng yêu mến Chúa và yêu người. Bà vâng phục ý Chúa trong mọi hoàn cảnh, không bao giờ dám oán than khi cuộc sống gặp nhiều sự buồn phiền trái ý. Bà dạy các con phải tin tưởng vào Thiên Chúa. Bà dạy và cùng các con đọc kinh, cầu nguyện, lần hạt, tham dự Thánh lễ mỗi ngày khi còn ở Việt Nam. Qua Mỹ, vì không thể lái xe, bà vẫn đọc kinh, lần chuỗi mỗi ngày. Khi gần cuối đời, dù không còn nhớ nhiều do bị dementia, bà vẫn ráng đọc kinh cầu nguyện. Bà là tấm gương sáng về lòng yêu thương chồng con và mọi người xung quanh. Chồng bà thất nghiệp từ năm 1973 và bản thân bà cũng thất nghiệp sau năm 1975, nhưng bà vẫn luôn là một người vợ chung thủy, đảm đang, lo lắng đầy đủ cho chồng con từng miếng cơm manh áo, để chồng con không phải bươn chải vất vả bên ngoài. Bà cũng có lòng thương yêu và giúp đỡ những người nghèo khó, tuy bản thân mình cũng luôn trong tình cảnh khó khăn. Khi đã định cư ở Hoa Kỳ, bà thường xuyên gửi tiền để giúp đỡ họ hàng bên Việt Nam, nhất là bên nội vì bên ấy rất khó khăn và có rất ít thân nhân ở nước ngoài. Tuy lớn lên trong chế độ phong kiến, bà lại là người có tư tưởng cởi mở. Bà luôn khuyến khích và lo lắng cho các con phải học hành đến nơi đến chốn, nhưng không bao giờ ép con cái phải làm hoặc học những điều mình không muốn; ngay cả trong việc lập gia đình, bà cũng để con được tự do lựa chọn theo ý của mình. Lòng bác ái yêu người của bà còn được thể hiện qua tính cương trực, thẳng thắn, không xu nịnh hoặc nói xấu ai bao giờ.
Nguyện xin Chúa nhân từ thương tha thứ mọi lỗi phạm của bà Theresa Phạm Thị Sơ và sớm đưa bà hưởng nhan Thánh Chúa. Xin Đức Mẹ và các thánh, nhất là thánh bổn mạng Theresa, cầu bầu cho bà Theresa Phạm Thị Sơ.





















Leave a Condolence